Gross Domestic Product (GDP) – Tổng sản phẩm quốc nội là tổng giá trị tiền tệ hoặc giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ hoàn chỉnh được sản xuất của một quốc gia trong một khoảng thời gian cụ thể (thường là một năm). Là một thước đo tổng thể về sản xuất trong nước, GDP hoạt động như một thẻ điểm toàn diện về sức khỏe kinh tế của một quốc gia nhất định.

gross domestic product là gì
Gross Domestic Product là gì?

Mặc dù GDP thường được tính trên cơ sở hàng năm, nhưng đôi khi nó cũng được tính trên theo hàng quý. Một số quốc gia, ví dụ như ở Mỹ, chính phủ công bố ước tính GDP cho mỗi quý tài chính và cho cả năm dương lịch.

Tìm hiểu về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Việc tính toán GDP của một quốc gia bao gồm tất cả tiêu dùng tư nhân và công cộng, chi tiêu của chính phủ, đầu tư, bổ sung vào hàng tồn kho tư nhân, chi phí xây dựng đã trả và cán cân thương mại nước ngoài. (Cộng giá trị xuất khẩu và trừ đi giá trị nhập khẩu).

Trong tất cả các yếu tố cấu thành nên tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia, thì cán cân thương mại đặc biệt quan trọng. GDP của một quốc gia có xu hướng tăng lên khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà người sản xuất trong nước bán cho nước ngoài vượt quá tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài mà người tiêu dùng trong nước mua. Khi tình trạng này xảy ra, một quốc gia được cho là có thặng dư thương mại.

Nếu tình huống ngược lại xảy ra – nếu số tiền mà người tiêu dùng trong nước chi cho các sản phẩm nước ngoài lớn hơn tổng số tiền mà các nhà sản xuất trong nước có thể bán cho người tiêu dùng nước ngoài – thì được gọi là thâm hụt thương mại. Trong trường hợp đó, GDP của một quốc gia có xu hướng giảm.

GDP có thể được tính trên cơ sở danh nghĩa hoặc cơ sở thực tế, rồi cuối cùng tính toán cho lạm phát. Nhìn chung, GDP thực tế là một phương pháp tốt hơn để thể hiện hiệu quả kinh tế quốc gia trong dài hạn vì nó sử dụng Giá trị đô la cố định.

Ví dụ, giả sử có một quốc gia vào năm 2011 có GDP danh nghĩa là 100 tỷ đô la. Đến năm 2021, GDP danh nghĩa của quốc gia này đã tăng lên 150 tỷ USD. Trong cùng khoảng thời gian đó, giá cả cũng tăng 100%. Trong ví dụ này, nếu bạn chỉ nhìn vào GDP danh nghĩa, nền kinh tế dường như đang hoạt động tốt. Tuy nhiên, GDP thực tế (tính theo đô la năm 2011) sẽ chỉ là 75 tỷ đô la, cho thấy rằng trên thực tế, sự suy giảm tổng thể trong hoạt động kinh tế thực tế đã xảy ra trong thời gian này.

Các loại GDP

GDP có thể được báo cáo theo nhiều cách, mỗi cách cung cấp những thông tin khác nhau.

GDP danh nghĩa

GDP danh nghĩa là một đánh giá về sản xuất kinh tế trong một nền kinh tế bao gồm giá hiện hành trong tính toán. Nói cách khác, nó bao gồm những thay đổi về giá do lạm phát và phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Tất cả hàng hóa và dịch vụ được tính trong GDP danh nghĩa được định giá theo giá mà hàng hóa và dịch vụ đó thực sự được bán trong năm đó. GDP danh nghĩa được đánh giá bằng nội tệ hoặc đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái thị trường tiền tệ để so sánh GDP của các quốc gia theo các điều kiện tài chính thuần túy.

GDP danh nghĩa được sử dụng khi so sánh các quý khác nhau của sản lượng trong cùng một năm. Khi so sánh GDP của hai năm trở lên, GDP thực tế được sử dụng. Điều này là do trên thực tế, việc loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát cho phép việc so sánh các năm với nhau chỉ tập trung vào khối lượng.

GDP thực tế

GDP thực tế là một thước đo được điều chỉnh theo lạm phát phản ánh số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi một nền kinh tế trong một năm nhất định, với giá cả được giữ cố định từ năm này sang năm khác để tách biệt tác động của lạm phát hoặc giảm phát khỏi xu hướng sản lượng theo thời gian. Vì GDP dựa trên giá trị tiền tệ của hàng hóa và dịch vụ, nên nó có thể chịu lạm phát.

Giá cả tăng sẽ có xu hướng làm tăng GDP của một quốc gia, nhưng điều này không hẳn phản ánh bất kỳ sự thay đổi nào về số lượng hoặc chất lượng của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất. Do đó, nếu chỉ nhìn vào GDP danh nghĩa của một nền kinh tế, rất khó để biết liệu con số này tăng lên do sản xuất mở rộng thực sự hay đơn giản là do giá cả tăng.

Các nhà kinh tế sử dụng một quy trình điều chỉnh để lạm phát đạt đến GDP thực tế của nền kinh tế. Bằng cách điều chỉnh sản lượng trong một năm nhất định đối với các mức giá thịnh hành trong năm tham chiếu, được gọi là năm cơ sở, các nhà kinh tế có thể điều chỉnh tác động của lạm phát. Bằng cách này, có thể so sánh GDP của một quốc gia từ năm này sang năm khác và xem liệu GDP của quốc gia đó có tăng trưởng thực sự hay không.

GDP thực được tính bằng cách sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (hay chỉ số giảm phát GDP), là mức chênh lệch về giá giữa năm hiện tại và năm cơ sở. Ví dụ: nếu giá tăng 5% kể từ năm cơ sở, thì chỉ số giảm phát sẽ là 1,05. GDP danh nghĩa được chia cho tỷ lệ giảm phát này sẽ ra GDP thực tế. GDP danh nghĩa thường cao hơn GDP thực tế vì lạm phát thường là một số dương.

Nếu có sự chênh lệch lớn giữa GDP thực tế và GDP danh nghĩa của một quốc gia, thì đây có thể là một chỉ báo cho thấy lạm phát hoặc giảm phát đáng kể trong nền kinh tế của quốc gia đó.

GDP bình quân đầu người là gì?

GDP hoặc GRDP bình quân đầu người là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) tính bình quân cho một người dân; được tính bằng cách lấy tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) chia cho dân số trung bình (Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG NINH)

Số lượng sản lượng hoặc thu nhập của mỗi người trong một nền kinh tế có thể cho biết năng suất trung bình hoặc mức sống trung bình của người dân trong quốc gia đó. GDP bình quân đầu người có thể được trình bày dưới dạng danh nghĩa, dạng thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) hoặc PPP (ngang giá sức mua).

Theo cách hiểu cơ bản, GDP bình quân đầu người cho thấy mỗi người dân có thể quy ra bao nhiêu giá trị sản xuất kinh tế. Hay đây cũng chính là thước đo tổng thể của tài sản của quốc gia vì giá trị thị trường GDP trên đầu người cũng được coi là thước đo thịnh vượng.

GDP bình quân đầu người thường được phân tích cùng với các thước đo GDP truyền thống khác. Các nhà kinh tế sử dụng số liệu này để phân tích về năng suất trong nước so với năng suất của các quốc gia khác. GDP bình quân đầu người xem xét cả GDP và dân số của một quốc gia. Do đó, có thể hiểu rõ từng yếu tố đóng góp như thế nào vào kết quả chung và đang ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người như thế nào.

Ví dụ, nếu GDP bình quân đầu người của một quốc gia đang tăng lên với mức dân số ổn định, thì đó có thể là kết quả của những tiến bộ công nghệ đang tạo ra nhiều sản phẩm hơn với cùng một mức dân số. Một số quốc gia có thể có GDP bình quân đầu người cao nhưng dân số ít, điều này thường có nghĩa là họ đã xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp dựa trên nguồn tài nguyên đặc biệt dồi dào.

Tỷ lệ tăng trưởng GDP

Tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội so sánh sự thay đổi hàng năm (hoặc hàng quý) của sản lượng kinh tế trong một quốc gia để đo lường tốc độ phát triển của một nền kinh tế. Thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm, chỉ số này phổ biến đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế vì tăng trưởng GDP có mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu chính sách chính như lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp.

Nếu tốc độ tăng trưởng GDP tăng nhanh, đó có thể là tín hiệu cho thấy nền kinh tế đang “ quá nóng” và ngân hàng trung ương có thể tìm cách để tăng lãi suất. Ngược lại, các ngân hàng trung ương cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP đang thu hẹp (hoặc tiêu cực) (tức là suy thoái) là một tín hiệu cho thấy lãi suất nên được hạ xuống.

Ngang giá sức mua (PPP)

Ngang giá sức mua là là một thước đo phân tích vĩ mô so sánh khả năng sản xuất và mức sống giữa các quốc gia. Mặc dù không trực tiếp đo lường GDP, nhưng các nhà kinh tế học sử dụng Ngang giá sức mua (GDP Purchasing Power Parity – PPP) để xem GDP của một quốc gia đang ở mức nào khi tính bằng đơn vị “đô la quốc tế” thông qua một phương pháp đánh giá sự khác biệt trong giá cả địa phương với chi phí sinh hoạt để so sánh sản lượng thực tế, thu nhập thực tế và mức sống giữa các quốc gia.

Xem thêm >>Crypto là gì? Top các đồng tiền điện tử phổ biến

Cách tính GDP

GDP có thể được xác định thông qua ba phương pháp chính. Cả ba phương pháp sẽ mang lại cùng một con số khi được tính toán chính xác. Ba cách tiếp cận này thường được gọi là phương pháp chi tiêu, phương pháp sản xuất (hoặc sản lượng) và phương pháp thu nhập.

Cách tính GDP
Gross Domestic Product là gì? Cách tính GDP

Phương pháp chi tiêu

Phương pháp tiếp cận chi tiêu (expenditure approach) sẽ tính toán chi tiêu của các nhóm khác nhau tham gia vào nền kinh tế. GDP của Hoa Kỳ chủ yếu được đo lường dựa trên cách tiếp cận chi tiêu. Cách tiếp cận này có thể được tính bằng công thức sau:

GDP = C + G + I + NX

trong đó

  • C = tiêu dùng;
  • G = chi tiêu của chính phủ;
  • I = đầu tư
  • NX = xuất khẩu ròng

Tất cả các hoạt động này đều đóng góp vào GDP của một quốc gia. Tiêu dùng (Consumption) đề cập đến chi tiêu tiêu dùng tư nhân hoặc chi tiêu của người tiêu dùng. Người tiêu dùng chi tiền để mua hàng hóa và dịch vụ, chẳng hạn như cửa hàng tạp hóa và cắt tóc. Chi tiêu tiêu dùng thường là thành phần lớn nhất của GDP.

Do đó, niềm tin của người tiêu dùng có tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế. Mức độ tin cậy cao cho thấy người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu, trong khi mức độ tin cậy thấp phản ánh sự không chắc chắn về tương lai và không sẵn sàng chi tiêu.

Chi tiêu của chính phủ đại diện cho chi tiêu tiêu dùng của chính phủ và tổng đầu tư. Các chính phủ chi tiền cho thiết bị, cơ sở hạ tầng và biên chế. Chi tiêu của chính phủ có thể trở nên quan trọng hơn so với các thành phần khác của GDP khi chi tiêu của người tiêu dùng và đầu tư kinh doanh đều giảm mạnh. (Điều này có thể xảy ra sau suy thoái).

Đầu tư là vốn đầu tư tư nhân nội địa hoặc chi phí tài sản cố định, là số tiền doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể cần đầu tư mua máy móc. Đầu tư kinh doanh là một thành phần quan trọng của GDP vì nó làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế và tăng mức độ việc làm.

Hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra được xuất khẩu sang các nước khác, trừ hàng hóa nhập khẩu được người tiêu dùng trong nước mua, đại diện cho xuất khẩu ròng của một quốc gia. Tất cả các khoản chi tiêu của các công ty đặt tại một quốc gia nhất định, ngay cả khi họ là các công ty nước ngoài, đều được tính vào công thức này.

Công thức xuất khẩu ròng bằng tổng xuất khẩu trừ tổng nhập khẩu (XKR = Xuất khẩu – Nhập khẩu).

Phương pháp Sản xuất (Đầu ra)

Cách tiếp cận sản xuất về cơ bản là mặt trái của cách tiếp cận chi tiêu. Thay vì đo lường chi phí đầu vào đóng góp vào hoạt động kinh tế, phương pháp sản xuất ước tính tổng giá trị của sản lượng kinh tế và trừ đi chi phí của hàng hóa trung gian được tiêu thụ trong quá trình này (như nguyên vật liệu và dịch vụ).

Phương pháp thu nhập

Tổng sản phẩm trong nước bằng Tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc. Theo phương pháp này, tổng sản phẩm trong nước gồm 4 yếu tố: thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật quy ra tiền), thuế sản xuất (đã giảm trừ phần trợ cấp cho sản xuất), khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dư/ thu nhập hỗn hợp. (Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ)

Sự khác biệt giữa GDP, GNP và GNI

Mặc dù GDP là một thước đo được sử dụng rộng rãi, nhưng vẫn có những cách khác để đo lường sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

Trong khi GDP đo lường hoạt động kinh tế trong phạm vi biên giới thực của một quốc gia (cho dù các nhà sản xuất là bản xứ của quốc gia đó hay các thực thể thuộc sở hữu nước ngoài), thì tổng sản lượng quốc gia (GNP) là phép đo tổng thể sản xuất của những người hoặc tập đoàn có nguồn gốc từ một quốc gia, bao gồm cả những công ty có trụ sở ở nước ngoài. GNP không bao gồm sản xuất trong nước của người nước ngoài.

Tổng thu nhập quốc dân (GNI) là một thước đo khác của tăng trưởng kinh tế. Nó là tổng của tất cả thu nhập mà công dân hoặc công dân của một quốc gia kiếm được (bất kể hoạt động kinh tế cơ bản diễn ra trong nước hay nước ngoài). Mối quan hệ giữa GNP và GNI tương tự như mối quan hệ giữa cách tiếp cận sản xuất (đầu ra) và cách tiếp cận thu nhập được sử dụng để tính GDP.

GNP sử dụng cách tiếp cận sản xuất, trong khi GNI sử dụng cách tiếp cận thu nhập. Với GNI, thu nhập của một quốc gia được tính bằng thu nhập trong nước, cộng với thuế kinh doanh gián tiếp và khấu hao (cũng như thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài – NFFI của quốc gia đó ). Số liệu về NFFI được tính bằng cách trừ tất cả các khoản thanh toán cho các công ty và cá nhân nước ngoài cho tất cả các khoản thanh toán của các doanh nghiệp trong nước.

Trong một nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển, GNI đã được coi là một thước đo có khả năng tốt hơn cho sức khỏe kinh tế tổng thể so với GDP. Bởi vì một số quốc gia có phần lớn thu nhập bị rút ra nước ngoài bởi các tập đoàn và cá nhân nước ngoài, con số GDP của họ cao hơn nhiều so với con số thể hiện GNI của họ.

Ví dụ, vào năm 2019, Luxembourg có sự khác biệt đáng kể giữa GDP và GNI, chủ yếu là do các khoản thanh toán lớn được thực hiện cho phần còn lại của thế giới thông qua các tập đoàn nước ngoài kinh doanh tại Luxembourg, bị thu hút bởi luật thuế thuận lợi của quốc gia nhỏ bé này. Ngược lại, ở Mỹ, GNI và GDP không có sự khác biệt đáng kể. Năm 2019, GDP của Mỹ là 21,7 nghìn tỷ USD trong khi GNI của nó cũng là 21,7 nghìn tỷ USD.

Sự điều chỉnh và thay đổi GDP

Một số điều chỉnh có thể được thực hiện đối với GDP của một quốc gia để cải thiện mức độ hữu ích và độ chính xác của con số này. Đối với các nhà kinh tế, GDP của một quốc gia tiết lộ quy mô của nền kinh tế nhưng lại cung cấp rất ít thông tin về mức sống của quốc gia đó. Một phần lý do của điều này là do quy mô dân số và chi phí sinh hoạt không nhất quán trên toàn thế giới.

Ví dụ, so sánh GDP danh nghĩa của Trung Quốc với GDP danh nghĩa của Ireland sẽ không cung cấp nhiều thông tin có ý nghĩa về thực tế cuộc sống ở các quốc gia đó vì Trung Quốc có dân số xấp xỉ 300 lần dân số Ireland.

Để giúp giải quyết vấn đề này, các nhà thống kê đôi khi so sánh GDP bình quân đầu người giữa các quốc gia. GDP bình quân đầu người được tính bằng cách lấy tổng GDP của một quốc gia chia cho dân số và con số này thường được trích dẫn để đánh giá mức sống của quốc gia đó. Mặc dù vậy, biện pháp vẫn chưa hoàn hảo.

Giả sử Trung Quốc có GDP bình quân đầu người là 1.500 đô la, trong khi Ireland có GDP bình quân đầu người là 15.000 đô la. Điều này không đồng nghĩa với việc một người Ireland trung bình sống tốt hơn 10 lần so với người Trung Quốc bình thường. GDP bình quân đầu người không tính đến mức độ đắt đỏ của cuộc sống ở một quốc gia.

Ngang giá sức mua (PPP) cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách so sánh số lượng hàng hóa và dịch vụ mà một đơn vị tiền tệ được điều chỉnh theo tỷ giá hối đoái có thể mua ở các quốc gia khác nhau — so sánh giá của một mặt hàng hoặc giỏ mặt hàng ở hai quốc gia sau khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái giữa hai loại, có hiệu lực.

GDP bình quân đầu người thực tế, được điều chỉnh theo ngang giá sức mua, là một thống kê được tinh chỉnh kỹ lưỡng để đo lường thu nhập thực tế, là một yếu tố quan trọng của hạnh phúc.

Một cá nhân ở Ireland có thể kiếm 100.000 đô la một năm, trong khi một cá nhân ở Trung Quốc có thể kiếm 50.000 đô la một năm. Về danh nghĩa, người lao động ở Ireland khá giả hơn. Tuy nhiên, nếu giá thực phẩm, quần áo và các mặt hàng khác của một năm ở Ireland cao gấp ba lần so với ở Trung Quốc, thì người lao động ở Trung Quốc có thu nhập thực tế cao hơn .

Cách sử dụng dữ liệu GDP

 

Cách sử dụng dữ liệu GDP
GDP là gì? Cách sử dụng dữ liệu GDP

Hầu hết các quốc gia công bố dữ liệu GDP hàng tháng và hàng quý. Tại Hoa Kỳ, Cục Phân tích Kinh tế (BEA) công bố bản phát hành trước về GDP hàng quý bốn tuần sau khi quý kết thúc và bản phát hành cuối cùng ba tháng sau khi quý kết thúc. Các bản phát hành của BEA rất đầy đủ và chứa nhiều chi tiết, cho phép các nhà kinh tế và nhà đầu tư có được thông tin và hiểu biết sâu sắc về các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.

Tác động tới thị trường của GDP nói chung là khá hạn chế, vì nó “lạc hậu” và một khoảng thời gian khá dài đã trôi qua từ quý kết thúc chi đến khi công bố dữ liệu GDP của quý đó. Tuy nhiên, dữ liệu GDP có thể có tác động đến thị trường nếu các con số thực tế khác biệt đáng kể so với kỳ vọng.

Bởi vì GDP cung cấp một chỉ báo trực tiếp về sức khỏe và sự tăng trưởng của nền kinh tế, các doanh nghiệp có thể sử dụng GDP như một chỉ dẫn cho chiến lược kinh doanh của họ. Các tổ chức chính phủ, chẳng hạn như Fed ở Mỹ, sử dụng tốc độ tăng trưởng và các số liệu thống kê GDP khác như một phần của quá trình quyết định của họ để xác định loại chính sách tiền tệ nào sẽ thực hiện.

Nếu tốc độ tăng trưởng chậm lại, họ có thể thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng để cố gắng thúc đẩy nền kinh tế. Nếu tốc độ tăng trưởng mạnh, họ có thể sử dụng chính sách tiền tệ để làm chậm lại mọi thứ để cố gắng ngăn chặn lạm phát.

GDP thực tế là chỉ số nói lên nhiều điều nhất về sức khỏe của nền kinh tế. Nó được các nhà kinh tế, nhà phân tích, nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách theo dõi và thảo luận rộng rãi. Việc phát hành trước dữ liệu mới nhất hầu như sẽ luôn ảnh hưởng đến thị trường, mặc dù tác động đó có thể bị hạn chế, như đã lưu ý ở trên.

GDP và đầu tư

Các nhà đầu tư theo dõi GDP vì nó cung cấp một khuôn khổ để ra quyết định. Dữ liệu “lợi nhuận doanh nghiệp” và “hàng tồn kho” trong báo cáo GDP là một nguồn tài nguyên tuyệt vời cho các nhà đầu tư cổ phần, vì cả hai loại đều cho thấy tổng mức tăng trưởng trong kỳ; dữ liệu lợi nhuận doanh nghiệp thể hiện lợi nhuận trước thuế, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và phân tích cho tất cả các lĩnh vực chính của nền kinh tế.

So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của các quốc gia khác nhau có thể góp phần vào việc phân bổ tài sản, hỗ trợ các quyết định về việc có nên đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở nước ngoài hay không – và nếu có thì nên đầu tư vào những nền kinh tế nào.

Một số liệu thú vị mà các nhà đầu tư có thể sử dụng để biết được giá trị của thị trường cổ phiếu là tỷ lệ giữa tổng vốn hóa thị trường trên GDP, được biểu thị bằng phần trăm. Vị dụ gần nhất với điều này về mặt định giá cổ phiếu là vốn hóa thị trường của một công ty trên tổng doanh thu (hoặc doanh thu), mà theo thuật ngữ trên mỗi cổ phiếu là hệ số giá/doanh thu nổi tiếng.

Cũng giống như cổ phiếu trong các lĩnh vực khác nhau giao dịch ở các hệ số giá/doanh thu rất khác nhau, các quốc gia khác nhau giao dịch theo tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP thực sự có mặt trên khắp bản đồ. Ví dụ, theo Ngân hàng Thế giới, Mỹ có tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP là 195% vào năm 2020, trong khi Trung Quốc có tỷ lệ này chỉ hơn 83% và Hồng Kông có tỷ lệ này là 1.769%.

Tuy nhiên, lợi ích của tỷ lệ này nằm ở chỗ bạn có thể so sánh nó với các tiêu chuẩn trong quá khứ của một quốc gia cụ thể. Ví dụ, Mỹ có tỷ lệ vốn hóa thị trường trên GDP là 142% vào cuối năm 2006, tỷ lệ này giảm xuống còn 79% vào cuối năm 2008. Nhìn lại, những vùng này lần lượt thể hiện các vùng đánh giá quá cao và đánh giá thấp đối với cổ phiếu của Hoa Kỳ.

Nhược điểm lớn nhất của dữ liệu này là thiếu tính tức thời; các nhà đầu tư chỉ nhận được một bản cập nhật mỗi quý và các bản sửa đổi có thể chênh lệch đủ lớn để thay đổi đáng kể tỷ lệ phần trăm thay đổi trong GDP.

Lịch sử hình thành chỉ số GDP

Khái niệm GDP lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1937 trong một báo cáo trước Quốc hội Hoa Kỳ để ứng phó với cuộc Đại suy thoái, được hình thành và trình bày bởi một nhà kinh tế tại Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, Simon Kuznets.

Vào thời điểm đó, hệ thống đo lường ưu việt là GNP. Sau hội nghị Bretton Woods năm 1944, GDP được chấp nhận rộng rãi làm phương tiện tiêu chuẩn để đo lường nền kinh tế quốc gia, mặc dù trớ trêu thay, Mỹ vẫn tiếp tục sử dụng GNP làm thước đo phúc lợi kinh tế chính thức cho đến năm 1991, sau đó chuyển sang GDP.

Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1950, một số nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách bắt đầu đặt câu hỏi về GDP. Ví dụ, một số người quan sát thấy xu hướng chấp nhận GDP như một chỉ số tuyệt đối về sự thất bại hay thành công của một quốc gia, bất chấp việc quốc gia đó không tính đến sức khỏe, hạnh phúc, bình đẳng và các yếu tố cấu thành khác của phúc lợi công cộng. Nói cách khác, những người chỉ trích này đã chú ý đến sự phân biệt giữa tiến bộ kinh tế và tiến bộ xã hội.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà chức trách, như Arthur Okun , một nhà kinh tế học của Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống John F. Kennedy, kiên định với niềm tin rằng GDP là một chỉ số tuyệt đối cho sự thành công của nền kinh tế, cho rằng cứ mỗi mức tăng GDP thì sẽ có một bước tiến trong giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Các chỉ trích và giới hạn của GDP

Tất nhiên, có những hạn chế khi sử dụng GDP làm chỉ số. Ngoài việc thiếu tính kịp thời, một số chỉ trích về GDP như một thước đo là:

  • Nó bỏ qua giá trị của hoạt động kinh tế không chính thức hoặc không được ghi chép: GDP dựa trên các giao dịch được ghi lại và dữ liệu chính thức, vì vậy nó không tính đến mức độ của hoạt động kinh tế phi chính thức. GDP không tính đến giá trị của việc làm chui, hoạt động thị trường ngầm , hoặc công việc tình nguyện phi lợi nhuận, những thứ có thể quan trọng ở một số quốc gia và không thể tính đến giá trị của thời gian nhàn rỗi hoặc sản xuất quy mô hộ gia đình, vốn là những điều kiện phổ biến của cuộc sống của con người trong mọi xã hội.
  • Nó bị giới hạn về mặt địa lý trong nền kinh tế mở toàn cầu: GDP không tính đến lợi nhuận thu được ở một quốc gia của các công ty ở nước ngoài mà được chuyển lại cho các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này có thể phóng đại sản lượng kinh tế thực tế của một quốc gia. Ví dụ, Ireland có GDP là 426 tỷ đô la và GNI là 324 tỷ đô la vào năm 2020, sự khác biệt khoảng 100 tỷ đô la (hoặc hơn 20% GDP) phần lớn là do lợi nhuận của các công ty nước ngoài có trụ sở tại Ireland.
  • Nó nhấn mạnh đến sản lượng vật chất mà không xem xét đến phúc lợi tổng thể: chỉ riêng tăng trưởng GDP không thể đo lường sự phát triển của một quốc gia hoặc phúc lợi của công dân, như đã nói ở trên. Ví dụ, một quốc gia có thể đang có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh chóng, nhưng điều này có thể đặt ra một chi phí đáng kể cho xã hội về tác động môi trường và gia tăng chênh lệch thu nhập.
  • Nó bỏ qua hoạt động giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp: GDP chỉ xem xét sản xuất hàng hóa cuối cùng, đầu tư vốn mới và cố tình loại bỏ chi tiêu trung gian và giao dịch giữa các doanh nghiệp. Bằng cách đó, GDP phóng đại tầm quan trọng của tiêu dùng so với sản xuất trong nền kinh tế và là một chỉ báo ít nhạy cảm về biến động kinh tế so với các thước đo bao gồm hoạt động giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp.
  • Nó tính chi phí và lãng phí là lợi ích kinh tế: GDP tính tất cả chi tiêu cuối cùng của tư nhân và chính phủ như là phần bổ sung vào thu nhập và sản lượng cho xã hội mà không cần biết chúng có thực sự mang lại hiệu quả hay lợi nhuận hay không. Điều này có nghĩa là các hoạt động không mang lại hiệu quả hoặc thậm chí phá hoại thường được tính là sản lượng kinh tế và đóng góp vào tăng trưởng GDP. Ví dụ, điều này bao gồm những khoản chi hướng đến việc trích xuất hoặc chuyển giao của cải giữa các thành viên trong xã hội thay vì sản xuất của cải (chẳng hạn như chi phí hành chính về thuế hoặc tiền chi cho vận động hành lang và chi phí tiền thuê nhà); chi tiêu cho các dự án đầu tư không có sẵn hàng hóa bổ sung và lao động cần thiết hoặc không có nhu cầu thực tế của người tiêu dùng (chẳng hạn như xây dựng các thành phố ma trống rỗng hoặc những cây cầu hư không, không kết nối với bất kỳ mạng lưới đường bộ nào); và chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ tự hủy hoại hoặc chỉ cần thiết để bù đắp cho các hoạt động phá hoại khác chứ không phải để tạo ra của cải mới (chẳng hạn như sản xuất vũ khí chiến tranh hoặc chi tiêu cho các biện pháp trị an và chống tội phạm).

Nguồn dữ liệu GDP ở đâu?

Ngân hàng Thế giới lưu trữ một trong những cơ sở dữ liệu dựa web đáng tin cậy nhất. Nó có một trong những danh sách dữ liệu GDP tốt nhất và toàn diện nhất về các quốc gia được theo dõi. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng cung cấp dữ liệu GDP thông qua nhiều cơ sở dữ liệu của nó, chẳng hạn như Triển vọng Kinh tế Thế giới và Thống kê Tài chính Quốc tế.

Một nguồn dữ liệu GDP có độ tin cậy cao khác là Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). OECD không chỉ cung cấp dữ liệu lịch sử mà còn dự báo tăng trưởng GDP. Nhược điểm của việc sử dụng cơ sở dữ liệu của OECD là nó chỉ theo dõi các nước thành viên OECD và một số ít nước khác không phải là thành viên.

Tại Mỹ, Fed thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn, bao gồm các cơ quan thống kê của một quốc gia và Ngân hàng Thế giới. Hạn chế duy nhất của việc sử dụng cơ sở dữ liệu của Fed là thiếu cập nhật dữ liệu GDP và thiếu dữ liệu cho một số quốc gia nhất định.

Cục Phân tích Kinh tế (BEA), một bộ phận của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, phát hành tài liệu phân tích của riêng mình, đây là một công cụ tuyệt vời dành cho nhà đầu tư để phân tích các số liệu và xu hướng cũng như đọc những điểm nổi bật của bản phát hành đầy đủ rất dài.

Quốc gia nào có GDP cao nhất?

Hai quốc gia có GDP cao nhất thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Tuy nhiên, xếp hạng của họ khác nhau tùy thuộc vào cách bạn đo lường GDP. Sử dụng GDP danh nghĩa, Hoa Kỳ đứng đầu với GDP là 20,89 nghìn tỷ đô la vào năm 2020, so với 14,7 nghìn tỷ đô la của Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế cho rằng sử dụng GDP ngang giá sức mua (PPP) làm thước đo cho sự giàu có quốc gia sẽ chính xác hơn. Theo số liệu này, Trung Quốc thực sự là nước dẫn đầu thế giới với GDP theo PPP năm 2020 là 24,3 nghìn tỷ USD, tiếp theo là 20,9 nghìn tỷ USD đối với Hoa Kỳ.

GDP cao có tốt không?

Hầu hết mọi người đều cho rằng GDP cao hơn là một điều tốt vì nó đi kèm với các cơ hội kinh tế lớn hơn và tiêu chuẩn phúc lợi vật chất được cải thiện. Tuy nhiên, có thể một quốc gia có GDP cao nhưng vẫn là một nơi không hấp dẫn để sinh sống, vì vậy điều quan trọng là phải xem xét các phép đo khác. Ví dụ, một quốc gia có thể có GDP cao nhưng GDP bình quân đầu người thấp, cho thấy rằng sự giàu có đáng kể tồn tại nhưng lại tập trung vào tay của rất ít người. Một cách để giải quyết vấn đề này là xem xét GDP cùng với một thước đo phát triển kinh tế khác, chẳng hạn như Chỉ số Phát triển Con người (HDI).

Lời kết

Trong sách giáo khoa Kinh tế học , Paul Samuelson và William Nordhaus đã tóm tắt gọn gàng tầm quan trọng của tài khoản quốc gia và GDP. Họ ví khả năng của GDP để đưa ra một bức tranh tổng thể về tình trạng của nền kinh tế với khả năng của một vệ tinh trong không gian có thể khảo sát thời tiết trên toàn bộ lục địa.

GDP cho phép các nhà hoạch định chính sách và ngân hàng trung ương đánh giá liệu nền kinh tế đang thu hẹp hay mở rộng, liệu nó cần thúc đẩy hay kiềm chế, và liệu rằng có một mối đe dọa như suy thoái hoặc lạm phát đang rình rập. Giống như bất kỳ thước đo nào, GDP cũng có những điểm không hoàn hảo. Trong những thập kỷ gần đây, chính phủ các nước có các sửa đổi mang nhiều sắc thái khác nhau trong nỗ lực nhằm tăng tính chính xác và cụ thể của GDP. Các phương tiện tính toán GDP cũng đã phát triển liên tục kể từ khi được hình thành để bắt kịp với các phép đo đang phát triển về hoạt động của ngành cũng như việc tạo ra và tiêu thụ các dạng tài sản vô hình mới.

Chắc hẳn với những chia sẻ mà Hỏi đáp Công nghệ cung cấp ở bài viết trên thì bạn đã hiểu rõ được Gross Domestic Product là gì rồi phải không nào. Hy vọng những kiến thức mà chúng tôi chia sẻ sẽ giúp cho bạn trong việc tính toán và nắm rõ những thông tin khác về GDP.